Nhập thông tin của bạn

Tìm hiểu về Giới Luật trong đạo Phật

02/06/2014 10h35 PM 1236

Giới thuộc vào nền tảng của đạo Phật, là một trong ba môn học " vô lậu ", nhằm dứt các lậu hoặc (pali: asava), dẫn tới giải thoát, tức là Giới (sila), Định (samadhi) và Huệ (pañña).

Là Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.

Trên mặt lý thuyết, Giới giữ một vị trí quan trọng đến nỗi một phần ba của Tam tạng Kinh điển (ti-pitaka) được dành riêng cho Giới Luật. Đó là Luật tạng (vinaya-pitaka), đứng bên cạnh Kinh tạng (sutta-pitaka) và Luận tạng (abidhamma-pitaka).

Trên mặt thực hành, Giới cũng đóng một vai trò mấu chốt trong đời sống Tăng đoàn. Một người muốn xuất gia đi tu thì đầu tiên phải thọ giới Sa-di (samanera) hoặc Sa-di ni (samaneri), rồi sau một thời gian mới thọ cụ túc giới (upasampada),phát nguyện tuân theo Giới bổn để trở thành Tỳ-kheo (bhikkhu) hoặc Tỳ-kheo ni (bhikkhuni).

Mặc dù quan trọng như vậy nhưng Giới Luật rất ít khi được đề cập đến hay trình bầy trong các bài thuyết giảng về giáo lý, ngoài Tăng đoàn.

Lý do có lẽ là Giới Luật được xem là một môn học khô khan, nhàm chán, không thu hút được quần chúng như các bài giảng về Kinh hay về Pháp. Hơn nữa, đối với đa số Phật tử, Giới Luật thuộc về lãnh vực riêng biệt của nhà tu hành, với hàng trăm giới luật phải ôn lại đều đặn, trong khi người cư sĩ chỉ cần biết rõ 5 giới căn bản là đủ. Vả lại, biết nhiều hơn để làm gì, khi mà Giới Luật thường được coi như những giáo điều cố định, miễn bàn tới bởi vì, cũng như lời của một vị Trưởng thượng, " chúng như vậy và luôn luôn sẽ là như vậy "...

Để đóng góp vào sự hiểu biết thêm về Giới Luật, chúng tôi xin dựa lên một số tài liệu căn bản, đặc biệt của HT Thiện Siêu (§1), HT Trí Quang (§4), và TS Nhất Hạnh (§8), để cố gắng trả lời một cách cặn kẽ những câu hỏi sau đây:

1- Giới là gì, Luật là gì? Giới và Luật khác nhau thế nào?

2- Giới được phân loại ra sao?

3- Có những nghi lễ nào liên quan đến Giới?

4- Tại sao đức Phật lại chế ra giới, và ngài chế giới trong những hoàn cảnh nào?

5- Luật Tạng được soạn thảo ra sao, và gồm những cuốn nào?

6- Vi phạm giới, tội nặng nhẹ ra sao? Giải quyết thế nào?

7- Giới đóng vai trò gì trong sự tu tập cá nhân?

8- Giới có lợi ích gì trong đời sống xã hội, cộng đồng?

9- Vì sao có nhiều giới luật liên quan đến tình dục và quan hệ nam-nữ như vậy?

10- Giới Luật có cần phải thay đổi hay không?

11- Hiện nay đã có những đề nghị thay đổi Giới Luật nào?

1) Giới là gì, Luật là gì? Giới và Luật khác nhau thế nào?

Giới và Luật thường được xem là giống nhau, và nhiều khi được gọi chung là Giới Luật. Nhưng xét kỹ ra thì Giới và Luật cũng có phần khác nhau.

Giới (sila, phiên âm: Thi-la) có nghĩa là đạo đức nói chung (éthique, ethics), đồng thời là những phép tắc (préceptes, moral rules), đặt ra cho các Phật tử xuất gia và cư sĩ đã thọ giới.

Luật (vinaya, Tỳ-nại-gia) có nghĩa là kỷ luật (discipline) gồm những phép tắc, những phương thức qui định đời sống Tăng đoàn (sangha), và được ghi lại trong Luật tạng.

Theo HT Thiện Siêu, nếu so sánh với thuốc men, thì Giới cũng như dược tánh, và Luật cũng như dược liệu, thang thuốc. Chẳng hạn như nếu Giới là acide salicylique, thì Luật là viên Aspirine. " Giới là điều răn, Luật là phương thức thực hành điều răn đó "(§1).

Như vậy, Giới có nghĩa rộng hơn, cũng như những nguyên tắc tổng quát, trong khi Luật có tính chất thực tiễn, đi vào chi tiết hơn. Do đó, người ta quen dùng chữ " Giới " hay " Giới cấm " cho tất cả các Phật tử, và dành chữ " Giới Luật " cho những người xuất gia tu hành.

2) Giới được phân loại ra sao?

Giới có nhiều cách phân loại (§1) :

a / " Biệt giải thoát giới ", " Đạo cộng giới " và " Định cộng giới ".

" Biệt giải thoát giới " (patimokkha, phiên âm: Ba-la-đề-mộc-xoa,từ pati = hướng về, mokkha = giải thoát), là những giới nằm trong Luật tạng, được áp dụng cho các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni, từ thời đức Phật cho đến nay. Chúng được gọi như vậy là vì thọ giới nào thì được sự lợi ích, sự giải thoát của giới đó, cũng như theo luật nhân quả, gieo nhân nào thì được quả ấy.

Nhưng cũng có hai loại Tỳ-kheo không cần thọ giới :

- " Thiện lai Tỳ-kheo ", là những nhà thiện căn đến với đức Phật khi ngài chưa chế giới, dốc tâm theo ngài tu tập, cho nên " tu phát tự lạc " (râu tóc tự rụng), " y pháp cụ túc " (áo cà sa tự dính vào mình), trở thành Tỳ-kheo.

- " Phá kiết sử Tỳ-kheo ", là những người không cần thọ giới mà tu hành chứng ngộ (" kiến đế Tỳ-kheo "), đoạn trừ được mọi phiền não kiết sử.

Đó là những người theo " Đạo cộng giới " và " Định cộng giới ", chỉ tu hành theo Pháp trí tuệ, quán Tứ đế, Vô ngã, Vô thường, v.v. (Đạo cộng giới), hoặc thiền định (Định cộng giới), mà đạt mức tâm vô lậu, pháp nhãn thanh tịnh, tuy không tu giới mà ngộ đạo.

b/ " Biệt giới " và " Thông giới " (hay " Bồ Tát giới ")

- " Biệt giới " là giới của hàng xuất gia và cư sĩ, và mỗi hàng phải thọ một số giới nhất định:

* Có 5 giới chung cho tất cả các Phật tử (pañca-sila):

1) không giết hại mạng người (hán-việt bất sát)

2) không nói dối (hv. bất vọng ngữ)

3) không trộm cắp (hv. bất đạo)

4) không tà dâm (hv. bất dâm)

5) không say rượu.

* 10 giới cho các Sa-di và Sa-di ni (dasa-sila). Thêm vào các giới trên là:

6) không ăn sau 12 g trưa

7) không chơi hay nghe ca nhạc, nhẩy múa

8) không trang điểm, xức dầu thơm, đeo nữ trang

9) không nằm giường cao, sang trọng

10) không nhận tiền, và vàng bạc.

* 227 giới cho Tỳ-kheo, 311 giới cho Tỳ-kheo ni, theo truyền thống Nguyên Thủy; 250 giới cho Tỳ-kheo, 348 giới cho Tỳ-kheo ni, theo truyền thống Đại thừa.

- " Thông giới " (hay " Bồ Tát giới "), là giới ai thọ cũng được. Cư sĩ hay tăng sĩ, già hay trẻ, cơ thể khoẻ mạnh hay bị bệnh tật, khuyết tật, đều có thể thọ giới được (trong khi trẻ quá hay già quá, bị bệnh tật hay khuyết tật nặng, không được thọ " biệt giới ", tức là xuất gia) miễn là hiểu được Pháp và có Bồ-đề tâm. " Thông giới " có tính chất bình đẳng hơn và không bị hạn chế bởi hình tướng.

c/ " Tánh giới " và " Già giới "

- " Tánh giới " thuộc về đạo đức tự nhiên (morale naturelle) và có tính chất phổ biến. Ví dụ như giết người, nói dối, ăn cắp đều bị xem là tội, trong bất cứ thời buổi hay xã hội nào. Tăng hay tục, phạm vào đều có tội. Tuy nhiên khi phạm vào, thì tục gọi là phạm tội, nhưng tăng thì là phạm giới.

- " Già giới " là giới mang theo hai ý nghĩa: 1) để ngăn sự cơ hiềm của thế gian, sự chê bai, dị nghị của người đời (chẳng hạn như tăng ni không được ăn mặc bê bối, hở hang, để người ta chê cười, phải ăn mặc và có tác phong đàng hoàng); 2) để ngăn sự phạm trọng giới (chẳng hạn như không uống rượu, để đừng gây nên tội nặng hơn).

3) Có những nghi lễ nào liên quan tới Giới?

a/ Đối với các Tăng Ni:

Một người muốn xuất gia thì sau một thời gian làm Sa-di khoảng 2 - 3 năm, dưới sự đề nghị và hướng dẫn của một vị Thầy, được làm lễ thọ cụ túc giới (*1) trong một giới đàn, trước Tăng chúng (*2), với tam sư thất chứng (ba người thầy, bẩy người làm chứng). Vị thầy Kiết-ma (kamma) (*3) lúc đó lên tiếng hỏi ba lần: " Ngày hôm nay có vị đó tên là X, xin theo Hòa thượng tên là Y, thọ cụ túc giớiNếu Tăng chúng ai bằng lòng cho vị ấy thọ giới thì im lặng, ai không bằng lòng thì nói lên ". Sau một lần xin, ba lần hỏi như vậy, vị ấy mới được thọ giới và trở thành Tỳ-kheo, gọi là " Bạch tứ Kiết-ma Tỳ-kheo " (*4). Người đó phải suốt đời trì giới, và mỗi lần phạm giới thì phải được cử tội, xử tội và giải tội bằng cách sám hối, trước một số Tỳ-kheo hay một mình, tùy theo tội nặng nhẹ.

Những ngày mồng 1 và rằm, các Tăng và Ni đoàn mỗi bên họp nhau lại để làm lễ, nghe giảng và nhắc lại những giới luật đó, tức là Ba-la-đề-mộc-xoa hay " Biệt giải thoát giới ".

Lễ tự tứ (pavarana) thường được tổ chức vào ngày cuối cùng của 3 tháng an cư kiết hạ (*5). Ngày đó, mọi người tự mình yêu cầu người khác nêu ra các tội lỗi mình đã phạm phải trước mặt các vị Tỳ-kheo khác, để mình sám hối cho thanh tịnh, cho nên còn gọi là " tùy ý ". Người chỉ lỗi trước đó phải " cầu thính ", tức là báo trước cho người ta biết là mình sẽ nói lỗi của họ ra trước Tăng chúng.

b/ Đối với các cư sĩ:

Tại các chùa thường có tổ chức lễ " thọ bát quan trai ", vào các ngày mồng 1, 8, 15 (rằm), 21 âm lịch, gọi là ngày Bố Tát (uposatha). " Trai " có nghĩa là nhịn ăn (jẻne, fasting). Trong những ngày " trai giới " đó, các cư sĩ (nam, upasaka, Ưu-bà-tắc;nữ, upasika, Ưu-bà-di), nguyện tuân theo 8 giới (atthanga-sila) trong 10 giới Sa-di và Sa-di ni: giới 7 và 8 gom lại làm một (không chơi hay nghe ca nhạc, nhẩy múa, không trang điểm, xức dầu thơm, đeo nữ trang), và giới 9 trở thành giới 8 (không nằm giường cao, sang trọng).

4) Tại sao đức Phật lại chế ra giới? Và ngài chế giới trong những hoàn cảnh nào?

Theo truyền thống, trong 12 năm đầu, đức Phật chưa chế ra giới, vì chưa có chuyện gì rắc rối xẩy ra trong Tăng đoàn, có thể gây nên cản trở cho sự tu tập của tăng ni.

Nhưng vào năm thứ 13, có xẩy ra chuyện Na-đề-tử ân ái với vợ cũ, cho nên Phật mới bắt đầu chế giới. Mỗi khi chế một giới, ngài lại nói 10 lợi ích (" cú nghĩa ") của việc chế giới đó: " Vì sự kiện toàn của Tăng già, sự trường tồn của Chánh Pháp, sự an lạc của Tăng chúng, sự tăng trưởng của lòng tin, sự đoạn diệt phiền não trong hiện tại và tương lai... "

Cứ như vậy, mỗi khi xẩy ra một sự cố, ngài lại chế thêm một giới, và dần dần số giới mỗi ngày một gia tăng, đa số là giới nhẹ và một số ít là giới nặng.

Chúng ta hãy xem lại trong những hoàn cảnh nào 4 giới nặng đầu tiên được chế ra (§1). Tuy đó chỉ là những truyền thuyết kể lại trong Kinh, khó lòng kiểm chứng được, nhưng chúng cũng không kém phần lý thú.

a) Giới thứ nhất: bất dâm

Na-đề-tử là một đệ tử xuất gia của đức Phật, xuất thân từ một gia đình giầu có. Năm đó bị hạn hán mất mùa, dân tình đói kém, Tăng chúng phải phân tán nhau đi các vùng chung quanh khất thực. Tình cờ, Na-đề-tử đi ngang quê mình, vào nhà khất thực. Mẹ của ông gặp lại con mừng rỡ, khóc lóc, van xin ông ở lại, đừng xuất gia nữa. Ông khăng khăng từ chối. Cuối cùng, bà mẹ van xin ông để lại cho bà một đứa cháu để nối nghiệp gia đình và lo hương khói tổ tiên. Vì thương mẹ, cho nên Na-đề-tử chấp thuận ái ân một lát với người vợ cũ, rồi từ giã ra về với chúng Tỳ-kheo. Tưởng là chuyện đã xong, nhưng từ đó Na-đề-tử ăn năn, hối hận, ăn ngủ không yên, thân hình tiều tụy. Thấy vậy, các vị Tỳ-kheo khác hỏi lý do tại sao, Na-đề-tử kể chuyện đó cho họ hay. Họ đem chuyện bạch lên đức Phật, ngài liền quở trách và chế ra từ đó giới thứ nhất là bất dâm, tức là hàng xuất gia không được có quan hệ tình dục, ngay cả với vợ chồng cũ của mình. Đối với người cư sĩ, thì không được tà dâm, tức là có quan hệ tình dục bất hợp pháp.

b) Giới thứ hai: bất đạo

Tỳ-kheo Đàn-ni-ca nguyên là con nhà thợ gốm, làm một căn chòi tranh trên núi để ở. Có người đi lượm củi thấy chòi vắng nên dỡ đi, lấy củi về nấu bếp. Khi về thấy chòi bị dỡ đi, ông bèn xây lên một căn chòi bằng đất nung, kiên cố mầu đỏ chói. Phật thấy vậy bảo ông nên phá bỏ đi, ông trù trừ nên đức Phật sai các Tỳ-kheo khác phá bỏ căn chòi đó. Ông liền đi tới khu rừng của vua Bình-sa (Bimsara) và nói với người kiểm lâm rằng: " Vua Bình-sa có hứa cho tôi dùng cây để làm cốc tu ", rồi vác rìu đốn cây xả cành lá lung tung. Quan triều đình đi qua thấy vậy hỏi người kiểm lâm, và chất vấn Đàn-ni-ca về tội đốn cây quí của Vua mà không xin phép. Câu chuyện rắc rối này đến tai Phật, cho nên ngài chế ra giới thứ hai là " bất dữ nhi thủ " (người ta không cho thì không lấy), hay là bất đạo (không đượctrộm cắp).

c) Giới thứ ba: bất sát

Lúc bấy giờ có một số Tỳ-kheo ở tại vườn bên sông Bà-cừu, tu theo quán bất tịnh để dứt lòng ái dục. Khi quán thấy thân thể mình nhơ nhớp, hôi hám không chịu nổi, chứa đầy phân tiểu, vi trùng lúc nhúc lại càng nhàm chán hơn, nên mới tìm cách hủy diệt thân mình. Họ xin " nếu có ai giúp đỡ chúng tôi giải thoát khỏi kiếp sống này thì được phước lớn ". Có một Tỳ-kheo tên Vật-lực-già-nan-đề, là sa môn mới xuất gia, nghe vậy liền rút dao ra đâm chém, càng giết càng hăng say, cho là mình độ giúp bao nhiêu đồng môn được giải thoát. Sau mùa an cư, các Tỳ-kheo thường về vấn an đức Phật, nhưng năm ấy ngài thấy sao mà về thưa thớt quá. Ngài phái các Tỳ-kheo đi nghe ngóng, thì tới nơi nghe thiên hạ đồn rầm lên là mấy ông thầy tu không biết làm sao mà giết nhau nằm la liệt, hôi thối không chịu nổi. Các Tỳ-kheo về bạch Phật, thì Phật nói: " Ta dậy chánh pháp, mà họ hành tà pháp ". Từ đó, ngài chế ra giới bất sát (không được giết hại), và dậy các đệ tử thay quán bất tịnh bằng quán sổ tức, để đừng đâm ra chán đời mà hủy hoại thân thể.

d) Giới thứ tư: bất vọng ngữ

Năm đó bị hạn hán mất mùa, lương thực không có bao nhiêu. Tại một thôn nọ, có một nhóm Tỳ-kheo bàn bạc với nhau và tìm ra một cách để được cúng dường hậu hĩnh. Một người tự nhận là mình đã chứng A-la-hán, đạt được nhiều thần thông siêu đẳng, và những người kia phụ họa là đúng như vậy, nếu cúng cho vị ấy thì sẽ được công đức vô lượng. Thiên hạ đua nhau cúng dường, và cả nhóm ăn uống dư giả. Sau mùa an cư, các Tỳ-kheo về hầu Phật, ai nấy đều xanh xao hốc hác, duy có nhóm ở thôn nọ thì hồng hào béo tốt. Phật hỏi: " Các Tỳ-kheo khất thực ra sao? ". Họ trả lời: " Dễ lắm, thưa Thế Tôn ". " Ủa! Sao mấy Tỳ-kheo kia nói là khó lắm cơ mà! " Bí quá, họ đành phải thú thực là đã nói dối và đánh lừa các thí chủ. Đức Phật khiển trách họ và chế ra giới bất vọng ngữ (không được nói dối).

Như vậy, cứ mỗi khi hữu sự, tức là có xẩy ra một chuyện gì rắc rối, gây xáo trộn trong đời sống Tăng đoàn, thì ngài lại chế ra một giới. Có nhiều giới rất ngộ nghĩnh, chẳng hạn như:

1- Một hôm, có một vị khách tăng tới thăm một Tỳ-kheo, không gõ cửa trước mà đẩy mạnh cửa đi vào. Chẳng may có một con rắn trên xà nhà rớt xuống vai ông, ông hoảng quá kêu réo um sùm, làm náo động tất cả mọi người. Câu chuyện được bạch lên Phật, Phật liền đặt ra luật trước khi vào phòng người khác phải xin phép.

2- Một Tỳ-kheo đi khất thực, cứ xăm xăm đi vào nhà người ta, bỗng nhiên thấy một người phụ nữ lõa thể nằm trên giường. Ông hoảng quá, cắm đầu chạy ra, không may đụng phải ông chồng đang về nhà. Ông chồng thấy bà vợ lõa thể và ông sư đang chạy trốn thì sinh nghi, đánh cho vị Tỳ-kheo một trận nhừ tử. Đức Phật từ đó chế ra giới đi khất thực đâu thì phải biết đường biết hướng, không phải chỗ nào cũng vào, và phải đi từ hai người trở lên.

3- Cũng lại một Tỳ-kheo đi khất thực, vào nhà gặp một người phụ nữ. Cô này tính lả lơi, thấy vị sư trẻ đẹp trai, muốn quyến rũ cho bằng được. Cô nói là nếu không chịu thì cô sẽ tự quào cho rách mặt. Vị Tỳ-kheo khiếp quá, vùng bỏ chạy. Không may cũng lại gặp ông chồng đang về nhà. Ông chồng thấy cô vợ mặt mày rướm máu, lại thỏ thẻ: " Vị sư này định làm chuyện phi pháp, em không chịu nên ông ấy quào vào mặt em ". Nhìn lại thì thấy vị Tỳ-kheo có móng tay dài, nên ông chồng không còn ngờ vực gì nữa, đánh cho vị Tỳ-kheo một trận nhừ tử. Đức Phật biết chuyện này, liền chế ra giới không được để móng tay dài.

4- Có những giới đặt ra còn ngộ nghĩnh hơn nữa: chẳng hạn như khi ngồi trong chúng tăng, không được đằng hắng to tiếng; đi vệ sinh, không được thở mạnh quá...

5- Và có những giới không quan trọng, nhưng lại có thể gây nên những hiềm khích, xáo trộn trong đời sống tăng đoàn. Chẳng hạn như câu chuyện sau đây ở Kosambi, thuật lại trong Kinh (§1).

Hôm đó, có một vị Thượng tọa Pháp sư (chuyên về dậy Pháp) đi tắm, tắm xong quên đổ nước thừa trong chậu. Vị Thượng tọa Luật sư (chuyên về dậy Luật) tắm sau, thấy vậy liền trách: " Tại sao tắm xong thầy lại không đổ nước thừa đi? Như vậy là phạm tội Đột-kiết-la ". Thượng tọa Pháp sư trả lời: " Vâng, tôi quả là vô ý, xin thành thật sám hối ". Câu chuyện tưởng đã xong, nhưng Thượng tọa Luật sư lại kể lại với đệ tử của mình, rồi cứ thế đồn ầm cả lên, đệ tử của Thượng tọa Pháp sư liền mách lại cho thầy của mình. Ông này cũng cảm thấy khó chịu, mình đã xin lỗi ông Luật sư này mà ông ấy còn làm khó dễ, thật là quá quắt. Thế rồi lời qua tiếng lại, tịnh xá chia ra làm hai phe chửi bới nhau dữ dội. Đức Phật đi xa về thấy vậy bèn lấy lời khuyên bảo, nhưng không ai chịu ai, họ còn nói: " Thế Tôn cứ lo việc của ngài, chúng con lo việc của chúng con ". Can ngăn mãi không được, đức Phật đành ôm bình bát lên núi để nghỉ dưỡng. Tại đó, có một con voi già và một con khỉ già, bị đàn voi và đàn khỉ trẻ quậy quá, nên cũng lên ẩn trên núi. Vì chung một cảnh ngộ, nên cả ba rất hợp với nhau. Hằng ngày, voi đi lấy nước, khỉ lấy trái cây về cúng Phật. Cho nên trong tranh chuyện Phật giáo thường có hình ảnh voi và khỉ cúng Phật cũng là để ghi lại chuyện đó. Tại tịnh xá, hàng cư sĩ đến hầu Phật không thấy ngài đâu liền hỏi lý do. Các Tỳ-kheo trả lời ầm ừ qua loa, cho nên các cư sĩ tẩy chay, cấm vận lương thực. Cuối cùng, bí quá họ cũng phải nói rõ sự thật và tỏ ra rất ân hận. Sau khi đã nhận lỗi và giảng hòa với nhau, họ cùng nhau đi thỉnh Phật trở về.

5) Luật tạng được soạn thảo ra sao, và gồm những cuốn sách nào?

Sau khi đức Phật Thích Ca diệt độ, vào khoảng 480 trước CN, các đoàn thể tăng già, rải rác trong vùng Đông Bắc Ấn Độ, bỗng nhiên ở trong một tình trạng vô cùng bối rối, hoang mang: không có ai thay thế ngài, và cũng không có gì dựa lên để tiếp tục hoằng pháp. Theo Kinh tạng Pali, trong khi một số Phật tử đang vật vã than khóc, thì có một vị Tỳ-kheo tên là Bạt-nan-đà (Subhadda) lên tiếng: " Này các hiền hữu, đừng khổ sở lo lắng làm chi! Chúng ta thật may mắn được thoát khỏi ngài Đại Sa môn. Ngài quen nói đến nhàm tai: 'Các người nên làm cái này, các người nên tránh cái nọ '. Bây giờ, chúng ta mới có thể tự do làm những gì chúng ta muốn, và không bị bắt buộc làm những gì chúng ta không muốn ". Nghe như vậy, vị đại đệ tử là Đại Ca Diếp (Maha-kassapa) vội vàng đề nghị triệu tập ngay một hội nghị kết tập Tăng đoàn để ôn lại và ghi lại những lời dậy của đức Phật.

Như vậy, theo truyền thuyết, Hội nghị Kết tập đầu tiên tụ họp trong động Thất Diệp tại Vương Xá thành (Rajagriha), xứ Magadha, với 500 đệ tử của đức Phật đều đã chứng quả A-la-hán (arahat), để cùng nhau ôn lại nền tảng Luật (vinaya) và Pháp (dhamma). A-nan-đà (Ananda), là người thị giả thân cận của đức Phật, và cũng là người cuối cùng chứng A-la-hán, được trao công việc ôn lại những bài thuyết pháp của ngài, và Ưu-bà-li (Upali) công việc ôn lại những giới luật ngài đã chế ra.

Kết tập (samgiti, hv. Chúng đẳng tụng) có nghĩa là tất cả ngồi lại với nhau và tụng lại lời đức Phật dậy. A-nan-đà hoặc Ưu-bà-li ngồi giữa đọc từng câu một: " Tôi nghe như vầy (evam maya srutam, hv. như thị ngã văn)... ", nếu trong chúng có ai nghe lời dậy khác thì phát biểu, nếu không thì thông qua. Như vậy, theo truyền thống, bộ Luật đầu tiên trong Luật Tạng (vinaya-pitaka) được gọi là bộ Bát thập tụng, do Ưu-bà-li tụng 80 lần mới xong. Thời đó chưa có ghi thành văn tự gì hết, mà chỉ lưu lại trong trí nhớ và truyền khẩu cho nhau.

Về sau, vào khoảng hơn 100 năm sau Phật diệt độ, dưới thời vua A-dục (Ashoka), Tăng đoàn bắt đầu rải rác khắp nơi, và phân chia làm nhiều nhóm ghi nhớ và hành trì Luật có phần khác nhau. Một Hội nghị Kết tập lần thứ nhì được tổ chức tại Tỳ-xá-li (Vaishali) nhân một sự bất đồng về Giới Luật, và cũng là điểm khởi đầu của một sự rạn nứt, phân chia đạo Phật nguồn gốc thành những bộ phái khác nhau.

Đối với đa số nhà Phật học, có nhiều khả năng Luật Tạng đã có những đổi thay từ Hội nghị Kết tập đầu tiên cho đến Hội nghị lần thứ nhì và sau nữa, cho đến khi được viết tay trên lá bối (lần đầu tiên tiếng pali tại Sri Lanka thế kỷ thứ I trước CN, và tiếng sanskrit tạp Phật tại Ấn Độ thế kỷ thứ II sau CN). Cho nên ngoài một phần cốt lõi chính ban đầu, còn nhiều điều vụn vặt bên ngoài được thêm vào sau.

Theo truyền thống, từ một bộ Luật ban đầu phân chia ra thành 6 bộ Luật thuộc các trường phái khác nhau (§1, 3):

- Một bộ bằng tiếng pali của Xích Đồng Diệp Bộ (Tamrasatiya), dùng tại các nước theo PG Nguyên Thủy (Theravada);

- 5 bộ được dịch sang tiếng Hán: 1) Tứ PhầnLuật của Pháp tạng bộ (hay Đàm-vô-đức, Dharmaguptaka), là bộ Luật phổ thông nhất tại các nước theo PG Đại thừa. 2) Thập TụngLuật của Nhất Thiết Hữu bộ (hay Tát-bà-đa, Sarvastivada), 3) Ngũ Phần Luật của Hóa địa bộ (hay Di-sa-tắc, Mahisasaka), 4) Tăng Kỳ Luậtcủa Đại chúng bộ (hay Ma-ha-tăng-kỳ,Mahasanghika), 5) Hữu Bộ Luật của Da-du-la Nhất Thiết Hữu bộ (Mula-sarvastivada), được dùng bởi PG Tây Tạng và Mông Cổ.

Nhìn đại khái, thì các bộ Luật đó đều giống nhau trên những điểm chính yếu, chỉ khác nhau trên một số chi tiết lặt vặt. Ngoài ra, cũng sẽ xuất hiện những bộ luận về Luật.

Khi đạo Phật truyền bá sang Trung quốc, ngài Đạo Tuyên lấy Tứ Phần Luật làm căn bản, và khai sáng nên Luật Tông. Từ đó Tứ Phần Luật phát triển mạnh, và ở Việt Nam từ xưa tới nay cũng dùng Tứ Phần Luật để hành trì.

Tứ Phần Luật gồm có 60 cuốn, có thể chia ra làm 2 phần:

- Phần 1 là giới bổn của tăng ni, tức là 250 giới Tỳ-kheo và 348 giới Tỳ-kheo ni.

- Phần 2 gồm 20 Kiền-độ (chương), về các qui định về thọ giới, thuyết giới, phạm tội, sám hối, an cư, tự tứ..., về áo quần, thuốc men, phòng ốc, và một số câu chuyện thời đức Phật.

6) Vi phạm giới, tội nặng nhẹ ra sao? Giải quyết thế nào?

Theo Tứ Phần Luật,Giới bổn của Tăng Ni được chia ra làm 8 loại: 1) Khí hay Ba-la-di; 2) Tăng tàn; 3) Bất định; 4) Xả đọa; 5) Đơn đọa; 6) Hối quá; 7) Chúng học hay Học pháp; 8) Diệt tránh. (§1, 3)

Đứng về mặt nặng nhẹ, thì các giới của của Tăng Ni có thể chia ra làm 3 loại:

- A) những giới nặng nhất, phạm vào thì mất tư cách Tỳ-kheo, không làm sao mà cứu vãn được nữa.

- B) những giới nặng, phạm vào thì tư cách Tỳ-kheo chỉ còn lại một chút, phải được cử tội, xử tội và giải tội bởi 20 vị Tỳ-kheo mới mong cứu vãn được.

- C) những giới vừa hay nhẹ, chỉ cần được giải tội, sám hối là đủ, một mình hay trước một số Tỳ-kheo, tùy theo tội.

Như vậy, giới bổn của Tỳ-kheo gồm 250 giới, chia ra làm (§1, 4):

- Loại A: 4 giới Ba-la-di (parajika) hay Cực ác, còngọi là " Khí " có nghĩa là vứt bỏ. Phạm tội nặng nhất này thì bị vứt bỏ đi, bị trục xuất khỏi Tăng đoàn. Tội này còn gọi là Ma thắng (bị Ma vương thắng) hay Tha thắng (bị người khác thắng mình), hay là " bất cộng trụ ", tức là không còn được tham dự vào công việc của Tăng đoàn. Ba-la-di gồm 4 tội: 1) đại dâm dục, tức là giao hợp với người khác phái, và ngay với cả người cùng phái, với súc vật; 2) lấy của người ta không cho, trộm cắp; 3) sát hại mạng người, đồng lõa giết người, và ngay cả khuyến khích sự chết; 4) đại vọng ngữ, tức là mạo nhận có thần thông.

- Loại B: 13 giới Tăng tàn (hay Tăng-già-bà-thi-sa, sanghadisesa) là tội cũng nặng, nhưng còn có thể cứu vãn được, bằng cách hội đủ 20 Tỳ-kheo Kiết-ma đúng Luật và sám hối. Trong 13 giới này có những giới liên quan tới tình dục, xây phòng ốc và chia rẽ tăng đoàn (phá tăng).

Bất định (aniyata) là tội không dứt khoát là nặng hay vừa, giữa Ba-la-di, Tăng tàn và Ba-dật-đề. Có 2giới Bất định liên quan tới giới dâm dục (ngồi ở chỗ khuất hay chỗ trống với nữ nhân, và nói lời thô tục, phi pháp).

- Loại C, là những giới sau:

Xả đọa (hay Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề, nissaggiya-pacittiya) gồm 30 tội liên quan tới sự tích tụ các đồ vật trái phép như áo quần, thuốc men, thức ăn, tiền bạc. Ai phạm tội ấy thì phải đưa đồ vật đó ra để xả bỏ trước Tăng chúng (4 người trở lên), và xin sám hối trước một vị Tỳ-kheo.

Đơn đọa (hay Ba-dật-đề, pacittiya) gồm 90 tội như tiểu vọng ngữ, nói xấu, bạo động, giết hại côn trùng, tham lam, uống rượu, chơi với người xấu, đi cùng đường với nữ nhân... Phạm tội thì chỉ phải đọa thôi, không phải xả.

Hối quá (hay Ba-la-đề-xa-ni, patidesaniya), còn gọi là Hướng bỉ hối, gồm 4 giới nhẹ liên quan tới thức ăn. Người phạm tội này chỉ cần hướng đến một Tỳ-kheo khác nói tội và xin sám hối.

Chúng học hay Học pháp (hay Thức-xoa Ca-la-ni, sikkha-karaniya) thuộc vào Đột-kiết-la, sekhiya, gồm100 học pháp, tức là các điều nên học, nên áp dụng trong sinh hoạt hàng ngày, các oai nghi nhỏ nhặt. Các tội Đột-kiết-la tuy nhẹ nhưng rất dễ phạm, khi biết phạm rồi chỉ cần sám hối và tự hứa không tái phạm nữa.

Diệt tránh (adhikarana-samatha), cũng thuộc vào Đột-kiết-la, gồm 7 phương thức để chấm dứt sự bất hòa giữa chúng tăng.

Giới bổn của Tỳ-kheo ni hơi khác một chút (§1, 4):

Ba-la-di có 8 thay vì 4.

Ngoài 4 giới Ba-la-di Tỳ-kheo thì còn thêm 4 giới nữa là: 5) nhiễm tâm xoa chạm: " cùng với người nam cũng có tâm ô nhiễm, thân thể chạm nhau, từ nách tới đầu gối, hoặc bóp hoặc xoa, hoặc kéo hoặc đẩy, hoặc xoa trên hoặc xoa dưới, hoặc bồng lên hoặc bế xuống, hoặc nắm hoặc bóp mạnh "; 6) nhiễm tâm tám sự: " cùng với người nam cũng có tâm ô nhiễm, chịu cho nắm tay, nắm áo, vào chỗ khuất, đứng chung, nói chung, đi chung, thân thể dựa nhau, cùng nhau hẹn hò "; 7) giấu che tội Ba-la-di của Tỳ-kheo ni khác; 8) theo kẻ bị chư tăng cử tội.

Để ý là hai giới 5 và 6, nếu Tỳ-kheo phạm phải thì nhẹ hơn, tức là Tăng tàn, chứ không phải Ba-la-di.

Tăng tàn: có 17 thay vì 13

- không có Bất định

Hối quá: có 8 thay vì 4

Đơn đọa: có 178 thay vì 90

Tổng cộng là 348 giới (hơn Tỳ-kheo 40 %).

Đặc biệt là Tỳ-kheo ni lại còn phải tuân theo Bát Kỉnh Pháp (gurudhamma). còn gọi là Bát Trọng Pháp (*6). Theo truyền thuyết, 5 năm sau khi Tăng đoàn Tỳ-kheo được thành lập, bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahapajapati Gotami), là dì và mẹ nuôi của đức Phật, cùng với 500 nữ nhân dòng họ Thích Ca, đến khẩn cầu đức Phật cho phép đi tu và thành lập Ni đoàn. Bà khẩn cầu đức Phật ba lần, nhưng cả ba lần đều bị từ chối. Cuối cùng, nhờ sự bênh vực của A-nan-đà, đức Phật chấp thuận, nhưng với điều kiện là Tỳ-kheo ni phải tuân theo Bát Kỉnh Pháp. Bát Kỉnh Pháp là 8 điều lệ hạ thấp địa vị của Tỳ-kheo ni, bắt Tỳ-kheo ni phải phục tòng Tỳ-kheo, đồng thời đặt Ni chúng dưới sự chỉ huy và sự bảo trợ của Tăng chúng.

Nói tóm lại, theo Luật tạng có rất nhiều giới các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni phải thọ trì, nếu giữ cho đúng thì khó vô cùng. Nói như HT Thiện Siêu: " Nếu chúng ta bỏ suốt cả cuộc đời để học Luật thì chưa chắc đã hiểu hết cái ngóc ngách, tỉ mỉ của nó. Sở dĩ có nhiều ngóc ngách cũng chỉ để trừ tâm bệnh cùa chúng sanh. Cái nghiệp của chúng sanh nó ngóc ngách như vậy, nên Phật phải chế giới tỉ mỉ để trừ nó "(§1).

Và trên thực tế thì khi phạm giới, cách xử phạt và giải tội linh động, uyển chuyển hơn trên lý thuyết rất nhiều (*7).

7) Giới đóng vai trò gì trong sự tu tập cá nhân?

Mục đích của giới, trên nguyên tắc, là để " phòng phi chỉ ác", tức là phòng ngừa các điều phi pháp và ngăn chận các điều ác quấy, đồng thời cũng là chỉ ác tác thiện ", tức là ngăn chận các điều ác và thành tựu các việc lành. Cũng như lời dậy đức Phật trong Kinh Pháp Cú, 183, lập lại bởi thiền sư Ô Sào: " Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo " (Không làm các điều ác, thành tựu các việc lành, giữ tâm ý thanh tịnh, ấy lời chư Phật dậy).

Điều cũng nên ghi nhận là giới không phải chỉ là một sự cấm đoán đơn thuần (không được làm cái này, không được làm cái nọ) mang tính chất tiêu cực, mà bao hàm cả tính chất tích cực tự nó nẩy lên do sự trì giới. Chẳng hạn như trì giới không sát hại sẽ làm nẩy lên lòng từ bi, không trộm cắp sự bố thí, không nói dối sự thành thật, không tà dâm sự thanh tịnh, không say sưa sự tỉnh thức (§5).

Thật ra, bản chất của đạo Phật là một con đường giải thoát chứ không phải là một hệ thống luân lý, mô phạm, cấm đoán con người làm điều này, bắt buộc con người làm điều nọ. Hai từ " ác " và " thiện " cũng không có trong đạo Phật nguồn gốc, mà được mượn tiếng Hán để dịch hai từ Pali " akusala " và " kusala". " Akusala " gồm các ý muốn gây nên nghiệp (kamma-cetana) xấu, đi cùng với 3 căn (mula) xấu là tham (lobha), sân (dosa) và si (moha). Ngược lại, " kusala " gồm các ý muốn gây nên nghiệp tốt, đi cùng với 3 căn tốt là không tham (alobha), không sân (adosa=metta, từ) và không si (amoha=pañña, huệ). Như vậy thì những điều " ác " là những nhân xấu đưa tới những quả xấu, phiền não (kilesa), khổ đau, và những điều " thiện " là những nhân tốt đưa tới những quả tốt, lìa phiền não, diệt khổ đau (§5).

Trong Trung Bộ Kinh, 78, đức Phật tuyên bố : " Giới tạo nghiệp tốt (kusala-sila) là gì? Đó là tác động thân(kaya-kamma) tốt, tác động khẩu (vaci-kamma) tốt, tác động ý (mano-kamma) tốt, và sự thanh tịnh trong cách sinh sống, mà ta gọi là giới ".

Đối với ngài, ý muốn hành độnghay tác ý (cetana) là điều quan trọng hơn cả: " Này các Tỳ-kheo, tác ý(cetana) là cái ta gọi là hành động, bởi vì là qua tác ý con người hành động bằng thân, khẩu, ý... " (Tăng Chi Bộ Kinh, VI, 63). Khác với Bà-la-môn và Thị-na giáo (jaïn), đạo Phật quan niệm rằng chỉ có hành động cố ý mới tạo nghiệp, trong khi hành động vô tình không tạo nghiệp. Do đó, tầm quan trọng của giới, sự phạm giới nặng hay nhẹ, tùy thuộc ở tác ý, ở ý thức con người trong mỗi trường hợp.

Giới có liên quan mật thiết với hai môn học " vô lậu " khác là Định (samadhi) và Huệ (pañña). Kinh Đại Bát Niết Bàn có nhắc lại lời đức Phật: " Định sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Giới, Huệ sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Định. Tâm phát triển với Huệ sẽ giải thoát khỏi các lậu hoặc(asava), tức là dục lậu (kamasava), hữu lậu (bhavasava), tri kiến lậu (ditthasava) và vô minh lậu(avijjasava)". Trong tám Chánh đạo (atthangika-magga), thì chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc vào Giới; chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc vào Định; chánh kiến, chánh tư duy thuộc vào Huệ (§5).

Vì " tâm dẫn đầu các pháp " (Kinh Pháp Cú, 1), cho nên Giới có thể xem là một điểm khởi đầu, một giai đoạn của sự tu tập: nhờ giữ Giới cho nên tâm mới Định, nhờ Định cho nên mới có Huệ, nhờ Huệ mới có giải thoát.

Nhà tu hành thường ban đầu còn nhiều lậu hoặc, cho nên cần phải chú tâm đến tác ý trong mọi hoạt động của thân, khẩu, ý. Phải tự kiểm soát, tự kiềm chế đừng để cho tâm buông lung, ô nhiễm bởi các lậu hoặc, và làm nẩy lên những cái mà ngày nay người ta gọi là " cảm xúc tiêu cực ". Đó là chức năng của các giới luật Ba-la-đề-mộc-xoa (Biệt giải thoát giới) đặt ra cho các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni. Các giới luật này được xem như là phương tiện nhiếp tâm trao cho bởi đức Phật: càng nhận được nhiều giới luật tức là càng được ưu ái trên con đường giải thoát...(§1)

Theo HT Thích Trí Quang, " Đại thể, giới luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni có 2 phần: phần 1 là giới luật, phần 2 là oai nghi. Phần 1 là những giới điều cấm tội lỗi thật sự, phần 2 là những giới điều cấm cử động bất xứng. Tức như loại Khí có thể nói là giới luật cả, loại Học pháp có thể nói là oai nghi cả. Còn các loại khác thì có giới là giới luật, có giới là oai nghi, có giới là cả hai. Tất cả giới luật và oai nghi như vậy tạo thành một bậc Chúng trung tôn. Giới điều nhiều đến mấy đi nữa, như Tứ phần luật nói, hễ có " thiểu dục tri túc " (ham ít, biết đủ), kèm theo " tàm quí " (biết hổ thẹn), thì giữ được hết cả, kể cả khai giá (linh động và hạn chế) của mỗi giới điều cũng thấy ra và giữ trọn "(§4).

5 giới cuối cùng của Sa-di và Sa-di ni, cũng như 3 giới cuối cùng của cư sĩ trong ngày " thọ bát quan trai " cũng đi theo tinh thần " thiểu dục tri túc " đó, nhằm tập trung tâm trí vào tu học, không để xao lãng bởi trần cảnh và các vui thú nhất thời.

Nói như vậy thì Luật không thể tách rời ra khỏi Pháp, và Luật chính là một phần của giáo pháp do đức Phật Thích Ca để lại. Chúng ta hãy nghe bài kệ cuối cùng của ngài trước khi nhập Đại Bát Niết Bàn:

Hỡi các Tỳ-kheo! 
Hãy chánh niệm, tỉnh giác, 
Trì giới, định tâm, nhiếp ý. 
Ai tinh tấn trong Pháp và Luật này, 
Sẽ lìa vòng sanh tử, chấm dứt khổ đau 
(Kinh Đại Bát Niết Bàn pali).

8) Giới có những lợi ích gì trong đời sống xã hội, cộng đồng?

Về mặt xã hội, cộng đồng, thì chúng ta phải phân biệt hai loại giới:

- 5 giới chung cho tất cả các Phật tử, còn gọi là " tánh giới " hay giới " tự nhiên " (pakati-sila), và

- các giới dành riêng cho tăng ni, là giới " theo qui ước " (pannati-sila)(§5).

Năm giới căn bản chung cho các Phật tử có thể gọi là đạo đức tự nhiên, bởi vì được chia sẻ bởi nhiều truyền thống, văn hóa khác nhau. Nếu so sánh với 10 " mệnh lệnh " (commandements, commandments) của Thượng Đế ban cho Moïse (Moses) trên núi Sinai, theo truyền thống Do Thái và Ky Tô giáo, thì chúng ta nhận thấy 4 mệnh lệnh cuối không khác gì với 4 giới đầu tiên của đạo Phật: " Ngươi sẽ không được giết hạikhông được ngoại tìnhkhông được trộm cắpkhông được làm chứng gian dối ".

Sự tuân thủ những giới cấm hay mệnh lệnh này dĩ nhiên rất có lợi ích cho nhân quần, xã hội. Có thể nói chúng là nền tảng của sự an lạc, thái bình giữa những con người. Hãy thử tưởng tượng một xã hội mà trong đó tất cả mọi người đều giữ được năm giới: không sát hại, không trộm cắp, không dối trá, không tà dâm, không say nghiện, thì xã hội đó sẽ an lạc, thái bình biết bao nhiêu!

Điểm khác biệt là đối với người Phật tử, đó không phải là mệnh lệnh của Thượng Đế hay của một quyền lực nào, mà chính là con đường mình tự chọn đưa tới đến giải thoát và hạnh phúc. Theo HT Thanh Từ, "Không phải được nhiều của cải, tình yêu, v.v... là con người có hạnh phúc. Hạnh phúc là người sống biết tiết chế, biết tôn trọng hạnh phúc của mọi người, biết thành thật thương mến nhau. Một dân tộc văn minh là một dân tộc biết tôn trọng sinh mạng của nhau, tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người. Vì thế, năm giới là nền tảng căn bản đem lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sống đúng ý nghĩa văn minh của nhân loại. Năm giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát. " (§6)

Giới luật dành riêng cho tăng ni có lợi ích khác. Cũng như lời giải thích của đức Phật mỗi khi ngài chế ra một giới: " Vì sự kiện toàn của Tăng già, sự trường tồn của Chánh Pháp, sự an lạc của Tăng chúng, sự tăng trưởng của lòng tin, sự đoạn diệt phiền não trong hiện tại và tương lai... ", giới luật không phải chỉ giúp ích cho sự tu tập của mỗi người, mà còn cần thiết cho sự đoàn kết, sự an tịnh của Tăng đoàn. Giới bổn có thể được xem như là một nội quy nhằm giữ kỷ luật trong một tổ chức và phải được tôn trọng bởi tất cả các thành viên. Chẳng hạn như trong giới bổn Tỳ-kheo có Học pháp, là các điều nên học, nên áp dụng trong sinh hoạt hàng ngày, và Diệt tránh, là các phương thức để giải quyết sự bất hòa giữa tăng chúng.

Trên nguyên tắc, trong khi " tánh giới ", tức là 5 giới căn bản, tạo nghiệp (khi giết hại thì kết quả sẽ là..., khi trộm cắp thì kết quả sẽ là..., khi tà dâm thì kết quả sẽ là...,v.v.), thì giới luật " theo qui ước ", dành riêng cho tăng ni,&nbs

Chứng minh và chỉ đạo: Thượng tọa Thích Thanh Tuấn, Ủy viên hội đồng trị sự TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Cư sĩ: Trần Thị Thanh Hà, Pháp danh: Bảo Ngọc, Tổ trưởng Tuệ Bi - Chùa Quán Sứ,  Email: thanhha@tuebichuaquansu.com

Điện thoại: 0914. 923. 656

Hotline: Anh Thao - Điện thoại: 0918.242.186

Mọi ý kiến đóng góp gửi bài viết, vui lòng liên hệ Email: info@chuaquansu.net

© 2014 chuaquansu.net. All Rights Reserved.

Design: Tiến Đức , Code: Văn Du

Bảo Trợ qua Paypal